9 Trường hợp không được thực hiện khấu trừ thuế GTGT

9 Trường hợp không được thực hiện khấu trừ thuế GTGT

Không phải cửa hàng hay cơ sở hoạt động kinh doanh nào cũng sẽ được khấu trừ thuế GTGT . Bên dưới đây chính là 9 trường hợp sẽ không được thực hiện khấu trừ thuế GTGT theo như quy định pháp luật.

Tổng hợp 9 trường hợp sẽ không được khấu trừ thuế GTGT

1. Thuế GTGT đầu vào bởi số lượng hàng hóa bị hao hụt vượt mức

Trường hợp mà hàng hóa có bị hao hụt một cách tự nhiên do tính chất lý hóa, khi vận chuyển, bơm rót như là xăng hay dầu…sẽ được kê khai, khấu trừ số thuế GTGT đầu vào của đúng số lượng hàng thực tế bị hao hụt tự nhiên vượt quá so với định mức hao hụt theo như quy định. phần thuế GTGT đầu vào của khối lượng hàng hóa hao hụt bị vượt định mức không được khấu trừ, hoàn thuế.

2. Tiền dùng thuê nhà cho các chuyên gia nước ngoài.

Trường hợp mà cơ sở hoạt động kinh doanh có những chuyên gia nước ngoài tới Việt Nam công tác, giữ những chức vụ quản lý ở tại Việt Nam, được hưởng lượng tại Việt Nam theo như hợp đồng lao động ký với lại cơ sở hoạt động kinh doanh không được phép khấu trừ thuế GTGT các khoản tiền thuê nhà cho những chuyên gia nước ngoài.

3. Thuế GTGT những hàng hóa, dịch vụ đang dùng đồng thời cho việc sản xuất , hoạt động kinh doanh mặt hàng cần chịu thuế và không chịu thuế GTGT

Thuế GTGT đầu vào từ hàng hóa dịch vụ ( kể cả là tài sản cố định), dùng đồng thời cho việc sản xuất, hoạt động kinh doanh hàng hóa và dịch vụ chịu thuế, không chịu thuế GTGT, thì sẽ chỉ được khấu trừ số thuế GTGT đầu vào cho hàng hóa, dịch vụ dùng cho việc sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT (Cần phải thực hiện phân bổ số thuế GTGT sẽ được khấu trừ, khoản thuế GTGT đầu vào do cho việc sản xuất kinh doanh không chịu thuế thì sẽ không được khấu trừ).

4. Thuế GTGT đầu vào tài sản cố định máy móc và thiết bị

Thuế GTGT đầu vào của máy móc, thiết bị, tài sản cố định, và kể cả thuế GTGT đầu vào của các hoạt động cho thuê các tài sản máy móc, thiết bị này và phần thuế GTGT đầu vào khác liên quan tới tài sản, máy móc thiết bị như là bảo hành, hay sửa chữa trong những trường hợp sau đây, sẽ không được khấu trừ mà phải tính vào nguyên giá của phần tài sản cố định hoặc là chi phí được thực hiện khấu trừ mà thực hiện tính vào nguyên giá tài sản cố định hoặc chi phí được trừ theo như quy định của Luật thuế TNDN và những văn bản hướng dẫn thi hành: Phần tài sản cố định chuyên được dùng để phục vụ sản xuất vũ khí, các khí tài phục vụ cho quốc phòng và an ninh; Các tài sản cố định, thiết bị, máy móc của những tổ chức tín dụng, công ty kinh doanh tái bảo hiểm, kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm nhân thọ, cơ sở khám chữa bệnh, các cơ sở đào tạo; du thuyền không dùng cho kinh doanh.

Tài sản cố định mà là ô tô chở khách từ 9 chỗ ngồi trở xuống ( ngoại từ ô tô dùng vào việc kinh doanh vận chuyển hành khách, hàng hóa, hoạt động kinh doanh du lịch, kinh doanh khách sạn, ô tô dùng làm mẫu để lái thử trải nghiệm ở cơ sở kinh doanh ô tô) có mức giá vượt 1,6 tỷ đồng (mức giá chưa có tính thuế GTGT) thì mức thuế GTGT đầu vào sẽ tương ứng với lại phần giá trị vượt trên 1,6 tỷ đồng không được khấu trừ.

5. Thuế GTGT được dùng cho sản xuất hoạt động kinh doanh hàng không có chịu thuế GTGT

Thuế GTGT đầu vào của dịch vụ, hàng hóa dùng trong sản xuất, hoạt động kinh doanh dịch vụ hàng hóa, không chịu thuế GTGT mà không được khấu trừ, ngoại trừ những trường hợp sau:

  • Thuế GTGT của dịch vụ, hàng hóa mà cơ sở hoạt động kinh doanh mua vào sản xuất kinh doanh dịch vụ hàng hóa, cung cấp cho phía tổ chức, cá nhân nước ngoài, các tổ chức quốc tế viện trợ nhân đạo, thực hiện viện trợ không hoàn lại hướng dẫn ở khoản 19 Điều 4 thuộc Thông tư 219/2013/TT-BTC sẽ được khấu trừ toàn bộ
  • Thuế GTGT đầu vào của dịch vụ hàng hóa dùng trong hoạt động tìm kiếm, thăm dò, làm phát triển mỏ dầu khí tời ngày khai thắc đầu tiên hoặc là ngày sản xuất đầu tiên hoặc là ngày sản xuất đầu tiên sẽ được khấu trừ toàn bộ.

6. Lỗi hóa đơn

Cơ sở hoạt động kinh doanh sẽ không được thực hiện tính khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với lại trường hợp:

  • Hóa đơn GTGT dùng không đúng như quy định của pháp luật: Hóa đơn GTGT không có ghi thuế GTGT ( ngoại trừ trường hợp đặc thù sẽ được dùng hóa đơn GTGT không có ghi thuế GTGT (Ngoại trừ trường hợp đặc thù sẽ được dùng hóa đơn GTGT ghi phần giá thanh toán là phần giá đã có thuế GTGT)
  • Hóa đơn không có ghi hoặc là ghi không đúng những chỉ tiêu như là: Tên, địa chỉ, MST của phía người bán nên không có xác định được người bán.
  • Hóa đơn không có ghi hoặc là ghi không đúng một trong những chỉ tiêu như là tên, địa chỉ, MST người mua nên là không xác định được người mua (ngoại trừ trường hợp hướng dẫn ở Khoản 12 Điều 14 của Thông tư số  219/2013/TT-BTC)
  • Hóa đơn, chứng từ thực hiện nộp thuế GTGT giả, các hóa đơn bị tẩy xóa, các hóa đơn khống ( không hàng hóa, dịch vụ kèm theo)
  • Hóa đơn ghi giá như không đúng giá trị thực tế của phía hàng hóa, dịch vụ, bán mua hoặc trao đổi.

7. Văn phòng tổng doanh nghiệp, tập đoàn không trực tiếp kinh doanh và những đơn vị hành chính trực thuộc

Văn phòng tổng của doanh nghiệp, tập đoàn không có trực tiếp hoạt động kinh doanh và những đơn vị hành chính sự nghiệp có trực thuộc như: Trạm xá, Bệnh viện, Nhà nghỉ dưỡng, trường đào tạo…không cần phải là người thực hiện nộp thuế GTGT thì sẽ không được khấu trừ hay là hoàn thuế GTGT đầu vào của dịch vụ, hàng hóa mua vào hay phục vụ cho những hoạt động của những đơn bị này.

Trường hợp những đơn vị này hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đang chịu thuế GTGT thì cần phải đăng ký, thực hiện kê khai nộp thuế GTGT riêng cho những hoạt động này.

8. Hóa đơn từ mức 20 triệu đồng trở lên mà lại không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng

Hàng hóa, dịch vụ mua vào đối với từng lần theo như hóa đơn từ 20 triệu đồng trở lên theo như giá đã có thuế GTGT nếu như không có chứng từ thanh toán thông qua ngân hàng thì sẽ không được khấu trừ. Đối với lại những tờ hóa đơn này, cơ sở hoạt động kinh doanh thực hiện kê khai vào những mục hàng hóa dịch vụ mà không đủ điều kiện thực hiện khấu trừ trong bảng kê hóa đơn và chứng từ hàng hóa dịch vụ được mua vào.

9. Hàng hóa xuất khẩu hoặc là hàng hóa được coi như xuất khẩu

Những trường hợp cơ sở hoạt động kinh doanh có các hàng hóa xuất khẩu hoặc là hàng hóa được xem như xuất khẩu nếu đã được xác nhận từ cơ quan Hải Quan (đối với lại hàng hóa xuất khẩu) nhưng mà không có đủ những thủ tục, hồ sơ khác với từng trường hợp cụ thể thì sẽ không cần phải tính thuế GTGT đầu ra nhưng mà không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Riêng với trường hợp mà hàng hóa gia công chuyển tiếp và cả hàng hóa xuất khẩu ở tại chỗ, nếu như không có đủ một trong những thủ tục, hồ sơ theo như quy định thì cần phải tính và thực hiện nộp thuế GTGT như là hàng hóa tiêu thụ nội địa.

Đối với cơ sở hoạt động kinh doanh có dịch vụ xuất khẩu hàng hóa nếu như không đáp ứng được điều kiện về việc thành toán thông qua ngân hàng hoàng là được xem như thanh toán thông qua ngân hàng thì sẽ không được áp dụng thuế suất thuế GTGT là 0%, không cần phải tính thuế GTGT đầu ra nhưng mà không được khấu trừ thuế đầu vào.

Lên đầu trang